Startup tại Việt Nam dưới góc nhìn của trang CNet

Flappy Bird từng làm một cú “hit” trên toàn thế giới, tạo ra động lực rất lớn cho ngành phát triển ứng dụng tại Việt Nam, và theo Sarah Tibken, biên tập viên trang tin công nghệ CNet, đó là bước khởi đầu cho Khởi nghiệp – Startup tại Việt Nam.

Đầu tiên, Sarah đến tổng lãnh sự Việt Nam tại Mỹ, mất 15 phút đi taxi từ văn phòng của CNet tại San Francisco. Tại đây, cô đã gặp một số lãnh đạo, trong đó có buổi tư vấn về việc tiếp cận các nhà đầu tư ở Mỹ cũng như cách hoạt động của startup tại Mỹ để áp dụng cho các startup tại Việt Nam. Mục đích cuối cùng là làm sao cho startup tại Việt Nam có thể làm được điều mà tại thung lũng Silicon đã làm rất tốt: Tạo ra những Facebook, DropBox tiếp theo.

Bà Thạch Lê Anh, một nữ doanh nhân đang làm việc cho Vietnam Silicon Valley (VSV), một tổ chức được chính phủ tài trợ nhằm hỗ trợ vốn và tư vấn cho các startup cho biết: “Tôi muốn mang văn hóa tại Silicon Valley về Việt Nam, chúng tôi muốn đem nét văn hóa rất khá biệt, tư duy độc lập và ước mơ về Việt Nam.”

[​IMG]
Việt Nam đang bủng nổ về sản xuất điện tử và muốn đẩy mạnh khởi nghiệp. Ảnh Sarah Tibken/CNet

VSV là một phần cố gắng của chính phủ Việt Nam mong muốn tạo ra cầu nối tạo được sự đổi mới, cách mạng trong lĩnh vực công nghệ, bởi trong nước, đã có nhiều công ty điện tử tiêu dùng lớn nhất thế giới đặt nhà máy, trụ sở, mang lại việc làm cũng như đầu tư lớn. Nhưng Việt Nam cần nhiều hơn: Điều đó là chưa đủ, việc người dân góp phần sản xuất ra TV, điện thoại thông minh; Việt Nam muốn có những “khởi nghiệp” trị giá hàng tỉ USD có thể thay đổi thế giới, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế cho đất nước.

“Chúng tôi đang bắt đầu dự án để kích thích các nhà đầu tư hỗ trợ nguồn lực và tài chính cho các startup tại Việt Nam.” Ông Trần Văn Tùng, thứ trưởng Bộ Khoa Học và Công Nghệ cho biết (thông qua thông dịch viên). “Chúng tôi muốn phát triển hệ sinh thái có thể đem lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư đồng thời kích thích đầu tư cho đất nước.”

Theo Sarah, Việt Nam có thể thành công, nếu chúng ta thoát khỏi lối mòn xưa cũ. Sự khắc khe cũng như vấn đề hạn chế sự phát triển của các công ty nội, vấn đề phá sản, như là thiếu chi phí vận hành và duy trì. Có rất ít quỹ đầu tư công nghệ tại Việt Nam bởi họ chọn rót tiền vào bất động sản thay vì các dự án khởi nghiệp. Cũng không có một hệ sinh thái tốt giúp gây quỹ tài trợ và mở rộng các công ty nhỏ. Đó là những lý do mà có rất ít công ty nhỏ tại Việt Nam có thể vươn ra khỏi tầm khu vực để rồi trở thành những tên tuổi lớn trên thế giới.

Nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam không cố gắng.

Không muốn mãi là một bánh răng trong một guồng máy

Hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã phát triển lên cao hơn những nghành kinh doanh truyền thống như dệt may và xuất khẩu cà phê, trở thành nguồn cung lớn trong lĩnh vực sản xuất điện tử. Nhiều ông lớn sản xuất smartphone trên thế giới đã có mặt tại Việt Nam như Samsung, đang ngày càng mở rộng tầm “phủ sóng”. Mặc dù đang được lãnh đạo bởi chính phủ Cộng Sản có phần bảo thủ (quan điểm củaSarah Tibken) nhưng Việt Nam đang dần tìm cách vượt lên, không muốn mãi chỉ là một bánh răng trong cả guồng máy.

VSV (Vietnam Silicon Valley), một dự án đầy tham vọng được chính phủ Việt Nam hậu thuẫn từ giữa năm 2013. Cho phép các dự án khởi nghiệp nhận được nguồn tài chính để “cất cánh” các kế hoạch của họ, giúp đỡ các satrtup lập kế hoạch kinh doanh và kết nối với các khách hàng hoặc nhà đầu tư tiềm năng. VSV trong sự kiện đầu tiên vừa qua đã tạo đà phát triển cho các startup thiên về kinh doanh và tiêu dùng. Sẽ còn tiếp tục các sự kiện như vậy trong năm nay.

Để học tập Mỹ, VSV đã đưa 12 đại diện từ Việt Nam, trong đó có thứ trưởng Bộ Khoa Học và Công Nghệ tham gia chuyến đi từ San Francisco Bay Area đến New York. Chuyến đi bao gồm các buổi nói chuyện với các nhà đầu tư, các tập đoàn lớn và các startup về việc làm sao để gây thu hút cho các công ty nhỏ tại Việt Nam, đồng thời, đề ra vai trò của chính phủ Việt Nam trong việc giúp đỡ và gây quỹ cho các dự án khởi nghiệp.

Sau gần hai tiếng tọa đàm tại San Francisco, Sarah Tibken đã có cuộc gặp với ông Phạm Hồng Quất, Giám đốc cơ quan Hỗ Trợ Khởi Nghiệp Công Nghệ và Thương Mại, trực thuộc Bộ Khoa Học và Công Nghệ. Và đặt câu hỏi: “Có phải chính phủ Việt Nam đang hỗ trợ các dự án khởi nghiệp?” – Và có lẽ ôngQuất đã được hỏi câu hỏi này rất nhiều lần trước đó.

“Thế hệ trẻ hiện tại ở Việt Nam có những ước mơ và tham vọng to lớn, trở thành những nhà khởi nghiệp thành công, muốn kiếm tiền từ linh vực công nghệ, ” ông Quất cho biết. “Điều này khác với truyền thống trước đây thường là mong muốn làm việc cho công ty lớn. Do đó tôi mong muốn được hỗ trợ họ.”

“Mỗi người là một khởi nghiệp”

Đó là suy nghĩ theo đuổi Sarah. Nhiều hơn một người nói với cô ấy như vậy. Thậm chí Ted Osius, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã nói về tinh thần khởi nghiệp tại Việt Nam cũng như động lực của nó. VàSarah đã không cần phải tìm ở đâu xa hơn những quán hàng thức ăn đường phố Hà Nội hay những tiệm may ở Hội An để hiểu hơn về khởi nghiệp ở Việt Nam.

Trong vài năm trở lại đây, làn sóng mới về startup, khởi nghiệp đã tràn vào Việt Nam. Gọi là “Flappy Bird Effect – Hiệu ứng Flappy Bird”, tên gọi của một trò chơi di động quá nổi tiếng của Nguyễn Hà Đông, nhà phát triển game tại Hà Nội, sau này đã phải gỡ khỏi Apple App Store vì quá “gây nghiện”. Lúc đỉnh điểm, trò chơi về “chú chim bay” của Đông đã mang về khoản 50 ngàn USD mỗi ngày, mà theo Sarah là tương đương với thu nhập của người lao động phổ thông bình thường tại Việt Nam trong gần 3 thập kỷ (???).

Còn theo Đỗ Anh Minh, biên tập của trang blog Tech In Asia, chuyên về đề tài startup tại Việt Nam cho biết “Chưa từng có khởi nghiệp thành công rực rỡ và mầu nhiệm nào như hiện tượng Flappy Bird trong suốt 10 năm qua tại Việt Nam”.

Các nhà khởi nghiệp mà Sarah gặp tại Việt Nam có người kính phục Đông, cũng có người đánh giá “game đó ai cũng làm được”. Nhưng tất cả họ đều bàn tán về câu chuyện “chú chim bay”. Flappy Bird như một ví dụ sáng chói cho sản phẩm Việt đã thành công rất nhanh ở cấp độ thế giới.

Tuy nhiên thành công bất ngờ của Flappy Bird là một ngoại lệ bởi thậm chí các công ty khác tại Việt Nam có thể tiếp cận thị trường Mỹ thì cũng chưa chắc gặt hái được thành công sớm như vậy. ÔngPhạm Hợp Phố, phó chủ tịch quỹ đầu tư IDG Ventures Vietnam, quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên tại Việt Nam, cho biết “Việt Nam cần thêm thời gian.” Ông Phố từng tốt nghiệp đại học Southern California cũng bổ sung thêm: “Đây là một quốc gia làm giàu một cách chậm rãi.”

Thiếu hụt nguồn vốn

Thế giới khởi nghiệp tại Mỹ là một mạng lưới phức tạp của các quỹ đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư hảo tâm, quỹ cộng đồng và các nhà khởi nghiệp cùng nhau làm việc (hoặc cạnh tranh) để đảm bảo các doanh nghiệp mới có được nguồn đầu tư hợp lý để phát triển. Điều này ở Việt Nam không thể bì được.

Khi IDG Ventures Vietnam mở ra ngân sách 100 triệu USD vào năm 2004, họ đã gặp phải một vấn đề là mọi người ở đây không quan tâm đến khái niệm quỹ đầu tư mạo hiểm, “Chúng tôi đã chuyển cụm từ ‘đầu tư mạo hiểm’ khi vào thị trường Việt Nam”. Ông Phố cho biết. “Không có từ nào sát với từ ‘VC’. Nhiều người nghĩ chúng tôi bán bảo hiểm vì không có từ ngữ nào gần gũi và quen thuộc.”

Hiện tại các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam tập trung cho các khởi nghiệp trong giai đoạn sơ khai. Và đó lại là thách thức cho các công ty khi họ phát triển lớn hơn, cần nhiều tiền hơn. Họ không có nhiều lựa chọn ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Một phần của vấn đề đảm bảo đầu tư tại Việt Nam là sự khó khăn để có được đầu ra thành công. Cho đến khi ra mắt công chúng hay được mua lại, thì vấn đề rất phổ biến là các nhà đâu tư không hề biết khi nào, hay thậm chí họ có nhận được lợi ích gì từ việc đầu tư của họ hay không.

“Chúng tôi sẽ thu lợi như thế nào?” Ông Phố nói. “Phần này cần phải làm rõ hơn so với những gì đang thấy.”

Tiếp cận nhà đầu tư Hoa Kỳ là không dễ dàng cho các công ty nhỏ tại Việt Nam nếu không có những liên kết. “Nếu tôi muốn đầu tư vào công ty tại Việt Nam, tôi không biết phải bắt đầu từ đâu,” Etienne Deffarges, chủ tịch hiệp hội các “mạnh thường quân” hàng năm tại trường Harvard Business School, cho biết trong sự kiện VSV tại San Francisco. “Tôi đã đến Việt Nam, nhưng tôi không biết gì về startup tại đây.”

Tạo tiếng vang cho Việt Nam

Thúc đẩy quan tâm của các nhà đầu tư Hoa Kỳ vào Việt Nam là vai trò lớn nhất của VSV trong chuyến đi lần này. Phải có được danh sách các công ty đã được tìm hiểu và xác nhận cần tạo đà phát triển bằng cách rót tiền vào cho họ — cho họ một đảm bảo uy tín từ phía Việt Nam trước.

“Rất khó khăn để tìm nhà đầu tư và thuyết phục họ tin tưởng vào tầm nhìn của chúng tôi và rót ngân sách vào các dự án mà chúng tôi đang có” là chia sẻ của Sarrie Bui, người sẽ tham gia vào chương trình thúc đẩy phát triển của VSV kế tiếp, nhằm có được ngân sách cũng như tư vấn. Khi Sarrie Buiđăng ký tham gia chương trình này vào đầu năm nay, tất cả những gì cô ấy có chỉ vỏn vẹn là ý tưởng về một trang web Etsy-like-e-commerce có thể giúp kết nối giữa những nghệ sỹ, những người làm ra sản phẩm tại Đông Nam Á với khách hàng toàn cầu. Nhưng VSV sẽ giúp đỡ cô ấy thực hiện website,TheHandmark.com

“E-commerce” (Thương Mại Điện Tử) là một trong những đề tài mà chính phủ đang lưu tâm,”. VSV sẽ hỗ trợ cô ấy “ở khía cạnh kiến thức, làm sao để hiện thực hóa ý tưởng”. Sarrie Bui chia sẻ thêm

Việc các nhà đầu tư tại Mỹ có cảm thấy thích thú hay quan tâm khi chính phủ Việt Nam cùng góp sức lại là một câu hỏi khác. Hầu hết các đầu tư từ nước ngoài cho startup tại Việt Nam đều là các nước châu Á, như Nhật Bản là một ví dụ.

Khi có chính phủ tham gia vào lĩnh vực khởi nghiệp, có hai kiểu — kiểu Mỹ, là chính phủ gần như không động tay, và kiểu Trung Quốc là chính phủ trực tiếp hỗ trợ khởi nghiệp. Đầu năm nay, Trung Quốc thiết lập quỹ đầu tư mạo hiểm 6.5 tỉ USD để “hỗ trợ các dự án khởi nghiệp cho các ngành công nghiệp mới nổi”. Ngoài ra còn có các quốc gia hỗ trợ từ chính phủ đối với các công ty công nghệ gồm có Israel, Nhật Bản và hàn Quốc — Là những nơi mà công nghệ đang bùng nổ.

Việt Nam cũng có tin đồn là sẽ có quỹ mạo hiểm riêng của chính phủ vào cuối năm nay, và VSV sẽ rót ngân sách ít nhất là 10,000 USD cho mỗi đơn vị tham gia chương trình thúc đẩy phát triển khởi nghiệp của họ. Chính phủ cũng sẽ tài trợ cho các hoạt động “thí nghiệm” tại trường đại học, các buổi thực hành và thi đua khởi nghiệp. Nhưng hiện tại, hầu như chính phủ đang áp dụng mô hình 50-50, tức là không hoàn toàn can thiệp trực tiếp mà cũng không hoàn toàn đứng ngoài.

Việc chính phủ có mặt cũng là điều quan trọng đối với một số khởi nghiệp. Trước khi tham gia VSV, ông Nguyễn Ngọc Tuấn đã tìm kiếm các nhà đầu tư giúp đỡ cho ý tưởng trang web về tuyển dụng, “nhưng thất bại vì họ yêu cầu kế hoạch kinh doanh, kế hoạch tài chính, định giá công ty, và rất khó khăn cho chúng tôi biết được giá trị của công ty mình ở thời điểm đó”. Ông Tuấn cho biết.

Ông Tuấn cuối cùng đã tham gia khóa đào tạo 4 tháng tại Hà Nội vào mùa hè năm ngoái của VSV, học cách lập kế hoạch kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, là Astro Telligent thời ban đầu và sau đó đổi tên thành Jobwise.com khi chuẩn bị ra mắt trong tháng này. VSV đã đầu tư 13,000 USD tương đương 10% cổ phần trong công ty (Mặc dù phải nộp lại 3,000 USD chi phí tham gia khóa 4 tháng), và kết nối Jobwise.com với khách hàng lớn đầu tiên là VIB – Vietnam International Bank. Điều này cũng đã giúp Jobwise.com nâng số vốn gọi 80,000USD đưa tổng giá trị công ty lên 800,000USD.

“Vietnam Silicon Valley rất hữu ích cho các công ty khởi nghiệp,” Nguyễn Ngọc Tuấn chia sẻ.

Với mục tiêu 5000 công ty công nghệ vào năm 2020, sẽ có vài việc cần làm cho Việt Nam. Tech In Asia ước tính hiện có 1000 – 2000 đơn vị khởi nghiệp, cũng khá khó khăn để kiểm định chất lượng mỗi nơi. “Nếu Việt Nam đầu tư hàng triệu USD vào phân khúc này thì mục tiêu trên có thể sẽ đạt được,” Đỗ Anh Minh, biên tập Tech In Asia chia sẻ. “Còn nếu không thì chỉ là giấc mơ mà thôi.”

Khởi đầu với các tài trợ nhỏ từ quỹ VC cũng là một cách để thúc đẩy khởi nghiệp. Và thuyết phục chính phủ Việt Nam đầu tư hàng triệu USD sẽ là nhiệm vụ của VSV trong chuyến đi tại Mỹ lần này. Hy vọng sẽ gây được 3 triệu USD để đồng đầu tư vào chương trình thúc đẩy của VSV trong vòng 5 năm tới, đồng thời xúc tiến với chính phủ hỗ trợ thêm nữa các “phòng thí nghiệm” cũng như thêm hỗ trợ, giúp đỡ khởi nghiệp tại Việt Nam.

TechElite, một startup 3 năm tuổi có CEO tốt nghiệp từ đại học Stanford năm 2012, là một trong hiếm hoi các công ty nhỏ tại Việt Nam nhận được đầu tư từ hai “mạnh thường quân” từ thung lũng Silicon ở Mỹ. Nhưng công ty có trụ sở tại Hà Nội lại đến với VSV để kiếm thêm đầu tư nhằm triển khai một ý tưởng mới – WorkDone, phần mềm hỗ trợ các công ty quản lý nhân sự. Nhà sáng lập TechElite đã tham gia chương trình thúc đẩy của VSV năm ngoái, gây được 350,000 USD nâng tổng trị giá đầu tư lên 1,8 triệu USD.

“Với VSV, chúng tôi không cần quan tâm lắm tới việc gặp gỡ các nhà đầu tư, bởi VSV có thể giúp đỡ rất nhiều trong việc tiếp cận các nhà đầu tư tiềm năng,” Phạm Kim Hùng, CEO từng trải qua 5 năm tại thung lũng Silicon trước khi trở về đồng sáng lập TechElite tại Việt Nam chia sẻ. “Chính phủ phải tham gia và hỗ trợ cho khởi nghiệp ở góc độ nào đó. Điều này hết sức quan trọng đối với startup tại Việt Nam.”

Còn tiếp.

Nguồn CNet